IMHEN
Tin tức / Môi trường và Biến đổi khí hậu
Họp nghiệm thu cấp cơ sở đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và lập bản đồ phân bố lắng đọng axít ở Việt Nam”
Thứ năm, 15/11/2018

Chiều ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại phòng họp 131, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu đã tổ chức họp nghiệm thu cấp cơ sở đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và lập bản đồ phân bố lắng đọng axít ở Việt Nam” do ThS. Ngô Thị Vân Anh làm chủ nhiệm.

Đến tham dự và phát biểu chỉ đạo có PGS. TS. Nguyễn Văn Thắng, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu.

 

PGS. TS. Huỳnh Thị Lan Hương, Phó viện trưởng Viện KTTVBĐKH đã chủ trì cuộc họp;

 

Tham dự cuộc họp gồm các thành viên hội đồng; đại diện Vụ KHCN; đại diện Phòng KHĐTHTQT; đại diện phòng KHTC và các khách mời, các chuyên gia và các cán bộ trong Viện.

Chủ nhiệm đề tài đã trình bày tóm tắt những nội dung chính, những kết quả chính của đề tài đã đạt được:

 

I. Mục tiêu:

1. Xây dựng bộ công cụ phù hợp để đánh giá lắng đọng axít cho Việt Nam;

2. Áp dụng bộ công cụ để xây dựng phân bố không gian của lắng đọng axít cho Việt Nam;

3. Đánh giá được hiện trạng lắng đọng axít và đề xuất hoàn thiện mạng lưới giám sát lắng đọng axít của Việt Nam;

II. Nội dung:

1. Thu thập bộ cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu lắng đọng axít cho Việt Nam và tổng quan tình hình nghiên cứu về lắng đọng axít;

2. Nghiên cứu kết nối các mô hình để tạo bộ công cụ tính toán lắng đọng axít;

3. Nghiên cứu ứng dụng bộ công cụ mô hình tính toán, mô phỏng phân bố lắng đọng axít cho Việt Nam;

4. Xây dựng bản đồ và đánh giá hiện trạng lắng đọng axít tại Việt Nam;

5. Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện mạng lưới giám sát lắng đọng axít trên lãnh thổ Việt Nam;

III. Kết luận và kiến nghị:

Với các mục tiêu, nội dung đã đặt ra, qua quá trình nghiên cứu, chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên đã cố gắng hoàn thành các sản phẩm theo thuyết minh; và đề tài đã đưa ra được những kết luận và kiến nghị cụ thể như sau:

Kết luận:

Thiết lập thành công bộ công cụ ghép nối các mô hình WRF+ REAS+ CMAQ phục vụ cho công tác nghiên cứu, đánh giá hiện trạng, mô phỏng lan truyền và lắng đọng axit cho quy mô toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Những mô hình được sử dụng trong đề tài như WRF, CMAQ đã và đang được sử dụng phổ biến trên thế giới và được giới khoa học công nhận về mặt chất lượng.

Kết quả đánh giá hiện trạng lắng đọng axit dựa vào số liệu quan trắc cho thấy mưa axit đã xảy ra ở nhiều nơi với mức độ khác nhau. Ở khu vực phía Bắc của Việt Nam mưa axit xảy ra thường xuyên và mức độ khá nghiêm trọng như tại Cúc Phương 44%, Bắc Giang 37%, Thái Nguyên 40%, Việt Trì 30%. Mưa axit cũng xảy ra tại khu vực miền Trung tại Vinh 60%, Huế 47%, Đà Lạt 35%, Nha Trang 31%, Pleiku 32%. Khu vực miền Nam cũng xảy ra mưa axit như tại Tây Ninh 37% và Cần Thơ 35%.

Nghiên cứu cũng chỉ ra không phải lúc nào mức độ mưa axit và lượng lắng đọng axit cũng tỷ lệ thuận với nhau, có những trạm lượng lắng đọng axit lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh do mức độ ô nhiễm không khí cao, tuy nhiên, mức độ mưa axit ở 2 trạm thành phố này lại thấp hơn so với các trạm vùng nông thôn hay vùng sinh thái như Hòa Bình, Cúc Phương, Pleiku, Cà Mau. Nguyên nhân là do trong nước mưa (lắng đọng ướt) của các trạm đó có các chất ô nhiễm khác đã tham gia vào phản ứng trung hòa axit trong nước mưa. Chất ô nhiễm góp phần chủ yếu trong phản ứng trung hòa axit trong nước mưa là NH3, các ion Ca2+, Mg2+ có nguồn gốc từ bụi đất. Các chất ô nhiễm mang tính bazơ này được phát thải vào bầu không khí dưới dạng chất khí hoặc các hạt aerosol, hạt bụi.

Hiện tại, ở Việt Nam có một số mạng lưới trạm quan trắc lắng đọng axit đó là mạng lưới của Tổng cục Khí tượng Thủy văn, mạng lưới của Tổng cục Môi trường và mạng lưới EANET. Tuy nhiên, số lượng trạm còn hạn chế và phân bố chưa hợp lý. Thêm vào đó, các mạng lưới này được đầu tư trang thiết bị, cũng như quy trình hoạt động, hướng dẫn kỹ thuật, nhân lực rất khác nhau, không thống nhất. Vì vậy, việc tổng hợp cũng như đánh giá nguồn thông tin, số liệu từ các mạng lưới này rất khó khăn. Mặc dù, Quy hoạch mạng lưới giám sát lắng đọng axit cho Việt Nam đã được phê duyệt từ năm 2016 (Quyết định số 90/QĐ-Ttg), tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của đề tài nhận thấy cần bổ sung, điều chỉnh danh mục trạm giám sát lắng đọng axit quy hoạch.

Kiến nghị:

Tiếp tục duy trì các hoạt động quan trắc, và phát triển mạng lưới trạm giám sát lắng đọng axit (bao gồm cả lắng đọng ướt và lắng đọng khô) trên phạm vi cả nước, đầu tư đồng bộ, hiện đại, hoạt động theo quy chuẩn thống nhất.

Tiếp tục nghiên cứu về lắng đọng axit, đặc biệt đầu tư xây dựng bộ số liệu kiểm kê nguồn phát thải ô nhiễm không khí để làm đầu vào chính xác cho các nghiên cứu phục vụ quản lý chất lượng không khí và đánh giá tác động của ô nhiễm không khí nói chung và lắng đọng axit nói riêng.

Tiếp tục nghiên cứu áp dụng hệ thống mô hình chất lượng không khí CMAQ trong nghiên cứu chất lượng không khí ở các quy mô vùng, khu vực để đánh giá khả năng ô nhiễm xuyên biên giới của ô nhiễm không khí nói chung và lắng đọng axit nói riêng.

Hoàn thiện hệ thống mạng lưới trạm quan trắc môi trường không khí nói chung và giám sát lắng đọng axit nói riêng để có thể cung cấp thông tin dữ liệu phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến của ô nhiễm không khí, lắng đọng axit tại Việt Nam.

Cho phép xây dựng các đề tài, dự án chuyên sâu nghiên cứu về các vấn đề tác động của lắng đọng axit đến sức khỏe con người, hệ sinh thái, đặc biệt là môi trường đất, sinh vật.

Tăng cường hợp tác trong nghiên cứu về ô nhiễm không khí, lắng đọng axit với các nước trong khu vực và trên thế giới.