IMHEN
Đào tạo và Hợp tác quốc tế / Đào tạo
Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Viện cho nghiên cứu sinh Trịnh Hoàng Dương
Thứ ba, 28/06/2022

Tại buổi đánh giá, trước các thành viên Hội đồng, nghiên cứu sinh (NCS) Trịnh Hoàng Dương đã trình bày các nội dung của Luận án với đề tài: “Nghiên cứu đánh giá diễn biến năng lượng bão trên Biển Đông và khả năng dự báo”.

 

GS. TS. Phan Văn Tân chủ trì buổi đánh giá

Sáng ngày 28/6, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu đã tổ chức Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Viện cho NCS. Trịnh Hoàng Dương. Buổi đánh giá diễn ra dưới sự chủ trì của GS. TS. Phan Văn Tân với sự tham gia của đại diện cơ sở đào tạo là PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng (Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu), GS.TS. Huỳnh Thị Lan Hương (Phó Viện trưởng) cùng đại diện các cơ quan phối hợp đào tạo với Viện và các chuyên gia thuộc Bộ Tài nguyên Môi trường.

Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Viện cho nghiên cứu sinh Trịnh Hoàng Dương gồm 7 thành viên được thành lập theo Quyết định số 107/QĐ-VKTTVBĐKH, ngày 22 tháng 4 năm 2022 của Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu. Trong đó, GS. TS. Phan Văn Tân (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên) là Chủ tịch Hội đồng. TS. Vũ Văn Thăng (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu) là Ủy viên Thư ký. PGS. TS. Phạm Thị Thanh Ngà (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu) là Ủy viên phản biện 1. PGS. TS. Vũ Thanh Hằng (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên) là Ủy viên phản biện 2. PGS. TS. Nguyễn Bá Thủy (Tổng cục Khí tượng Thủy văn) là Ủy viên phản biện 3. GS. TS. Nguyễn Trọng Hiệu (Chuyên gia) và TS. Nguyễn Văn Hiệp (Tổng cục Khí tượng Thủy văn) là Ủy viên.

 

Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Viện cho NCS. Trịnh Hoàng Dương

Trước các thành viên Hội đồng, NCS. Trịnh Hoàng Dương đã lần lượt trình bày các nội dung trong Luận án. Nói về lý do lựa chọn đề tài, NCS. Trịnh Hoàng Dương cho biết, chỉ số năng lượng bão của mùa bão hàng năm phản ánh xu thế chung về hoạt động tiềm tàng của mùa bão và là thông tin bổ sung về số lượng bão và ngày có bão trong nhận định xu thế mùa bão. Chúng đang được sử dụng khá phổ biến trong nghiệp vụ dự báo bão như ở Hoa Kỳ, Anh,…

Thuật ngữ này còn được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, đầu tư tài chính liên quan đến rủi ro thiên tai. Thông tin về năng lượng bão tích lũy thời gian thực kết hợp với thông tin dự báo bão (bao gồm năng lượng bão tích lũy, số lượng bão và thời gian tồn tại) được sử dụng để đưa ra nhận định kinh doanh hay kế hoạch chuẩn bị nguồn lực cho quản lý rủi ro do bão gây ra.

Nghiên cứu bão trên khu vực Biển Đông đã và đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu sâu về đặc điểm diễn biến năng lượng bão, cũng như dự báo chúng cho Biển Đông được công bố. Chính vì vậy, luận án nghiên cứu đánh giá đặc điểm diễn biến và dự báo hạn mùa về năng lượng bão nhằm bổ sung thêm thông tin cho nhận định hoạt động của chúng trên Biển Đông là rất cần thiết.

 

NCS. Trịnh Hoàng Dương trình bày nội dung Luận án

Bằng việc nghiên cứu chỉ số năng lượng bão tích lũy (hay động năng bão tích lũy hay còn gọi là chỉ số năng lượng gió bão) và các đặc trưng thống kê về bão, bão mạnh, ngày có bão trên Biển Đông (0-230N, 100-1200E), Luận án đã đúc kết được đặc điểm diễn biến của năng lượng bão. Theo đó, thời gian tập trung năng lượng bão trên Biển Đông có sự tương đồng so với khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương vào tháng 7 đến tháng 11 nhưng thời gian tập trung cao điểm muộn hơn khoảng 1 tháng.

Trị số năng lượng bão tích lũy/Động năng bão tích lũy (ACE) trung bình nhiều năm khoảng 76.9 x 103m2s-2, năm cao khoảng 140-160 x 103m2s-2, năm thấp khoảng 15-20 x 103m2s-2, độ lệch tiêu chuẩn và biến suất là 32 x 103m2s-2 và 42%. Từ khoảng 16oN trở ra phía Bắc có ACE khá cao khoảng 0,02 đến 0.07 x 103m2s-2 nhưng từ vĩ tuyến 160N vào Nam ACE thấp hơn khoảng 0.01 x 103 m2s-2. Xu thế tuyến tính của ACE nhìn chung giảm trong giai đoạn từ 1982-2018 và tăng trong hai thập kỷ gần đây từ 1999-2018 nhưng không đạt mức độ tin cậy thống kê 95% theo kiểm nghiệm Student.

Sự biến động của bão Biển Đông giai đoạn 1982-2018 có mối tương quan với SST ở Ấn Độ Dương, ở Tây Nam Thái Bình Dương và phía Đông Nam Nhật Bản, trong đó với SST ở biển phía Đông Nam Nhật Bản là mối tương quan nghịch chặt chẽ. Cụ thể khi SST ở biển phía Đông Nam Nhật Bản ấm hơn tương ứng với ACE ở Biển Đông thấp hơn và ngược lại.

Kết quả phân tích thành phần chính cho thấy tồn tại mối quan hệ thống kê chặt chẽ giữa ACE với PC2 đặc trưng cho cường độ APSJ (dòng xiết cận nhiệt đới Đông Á-Thái Bình Dương/Dòng xiết cận nhiệt đới); Cường độ APSJ cao hơn tương ứng với JSST (nhiệt độ mặt nước biển ở biển phía Đông Nam Nhật Bản) lạnh hơn sẽ tăng cường chuyển động thẳng đứng trên quy mô lớn và xoáy thuận mực thấp trên Biển Đông và phía đông biển Philippines, điều này thuận lợi cho sự bão hình thành và di chuyển vào Biển Đông dẫn đến sự gia tăng tổng thể ACE.

Kết quả khảo sát mối quan hệ tương quan giữa SST (nhiệt độ mặt nước biển) ở biển phía phía Đông Nam Nhật Bản và gió vĩ hướng mực 200 mb khu vực cận nhiệt Đông Á (liên quan đến APSJ) dựa trên số liệu dự báo lại của CFSv2 (Hệ thống dự báo khí hậu phiên bản 2) cho thấy khả năng ứng dụng cho xây dựng phương trình thử nghiệm dự báo ACE.

 

Toàn cảnh buổi đánh giá

Luận án đã xây dựng được 26 phương trình dự báo ACE1 và ACE2 trên Biển Đông đạt tiêu chuẩn kiểm nghiêm Fisher. Cụ thể, đối với dự báo ACE1 là hai phương trình tại thời điểm phát tin trong tháng 3, năm phương trình trong tháng 4, sáu phương trình trong tháng 5 và bảy phương trình trong tháng 6. Đối với dự báo ACE 2 là ba phương trình tại thời điểm phát tin dự báo ACE2 trong tháng 6 và ba phương trình trong tháng 7. Trên cơ sở so sánh sai số dự báo ACE1 và ACE2 từ số liệu độc lập với dự báo nghiệp vụ thực tế cho thấy có thể sử dụng 26 phương trình này để dự báo trước 1-2 tháng.

Bên cạnh đó, có thể dựa trên thông tin chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển ở phía phía Đông Nam Nhật Bản và APSJ để nhận định xu thế bão trong mùa bão thời gian tới. Cụ thể, ACE thể hiện “hoạt động tổng thể” cho mùa bão và thường chỉ thị mùa bão với nhiều cơn bão có cường độ cao, hoặc thời gian kéo dài. Do đó kết quả dự báo ACE của mùa bão hàng năm phản ánh xu thế chung về hoạt động tiềm tàng của mùa bão và là thông tin bổ sung về số lượng bão và NCB trong nhận định xu thế mùa bão.

Luận án của NCS. Trịnh Hoàng Dương đã nhận được nhiều ý kiến nhận xét, góp ý của các thành viên trong Hội đồng. Sau phiên họp kín, các thành viên Hội đồng đánh giá NCS. Trịnh Hoàng Dương đủ tiêu chuẩn đạt trình độ tiến sĩ với 2/7/7 phiếu tán thành xuất sắc. Tuy nhiên, NCS. cần sửa chữa và hoàn thiện Luận án theo Quyết nghị của Hội đồng trước khi nộp cho Thư viện Quốc gia.

Dưới đây là một số hình ảnh về buổi đánh giá luận án cấp Viện của NCS. Trịnh Hoàng Dương:

 
 

PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng - đại diện cơ sở đào tạo phát biểu và tặng hoa cho NCS

 

NCS chụp ảnh cùng các thầy cô trong Hội đồng

 

NCS chụp ảnh cùng lãnh đạo Viện KTTVBĐKH

 

NCS chụp ảnh cùng hai giáo viên hướng dẫn

 
NCS phát biểu tại buổi đánh giá.